facebook google twitter tumblr instagram linkedin
  • Trang chủ
  • Sáng kiến mới
  • Nghiên cứu
    • Về làng nghề
    • Về nghề thủ công
    • Về nghệ nhân
    • Về kinh tế
  • Tinh hoa thủ công
    • Nghệ nhân
    • Chế tác
    • Bản đồ nghề thủ công
    • Cơ sở sản xuất
  • Chính sách công
  • Dự án

Sáng kiến thủ công

NGUYỄN LỰC
Phó Chủ tịch Hội đồng tư vấn
Hiệp hội Làng Nghề Việt Nam

Lời mở đầu: Bình minh của một kỷ nguyên mới


Trong dòng chảy không ngừng của lịch sử nhân loại, mỗi kỷ nguyên vĩ đại đều được định hình bởi một nguồn cảm hứng chủ đạo – một “nàng thơ” vô hình nhưng đầy quyền năng, thúc đẩy trí tuệ và khát vọng sáng tạo của con người lên một tầm cao mới. Từ tiếng vang của những cỗ máy hơi nước trong Cách mạng Công nghiệp, sự bùng nổ của thông tin với máy tính cá nhân, cho đến cuộc cách mạng Internet đã kết nối toàn cầu, mỗi giai đoạn đều khắc sâu dấu ấn của một lực đẩy đột phá. Ngày nay, chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa của một kỷ nguyên mới, nơi nàng thơ không còn là vật thể hữu hình hay khái niệm trừu tượng, mà đến từ chính trí tuệ nhân tạo (AI).


B.6- KHÁM PHÁ CÁC KHÍA CẠNH KINH TẾ CỦA VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 

Theo báo cáo từ Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong những năm qua luôn trong nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và ngành thủ công mỹ nghệ có vai trò quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, là ngành nghề thu hút nhiều lao động tham gia làm hàng xuất khẩu, góp phần xoá đói giảm nghèo ở nông thôn.

Gốm giác vàng là sản phẩm sáng tạo của Cơ sở Vạn An Lạc, Bát Tràng

Các hiêp hội ngành nghề cho rằng cứ 1 triệu USD xuất khẩu của ngành thủ công mỹ nghệ mang lại lợi nhuận gấp 5-10 lần so với ngành khai thác và giải quyết việc làm cho 3-5 nghìn người lao động. Bô Công thương cũng xếp nhóm hàng thủ công mỹ nghệ được xếp vào nhóm sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu lớn và có tỷ suất lợi nhuận cao, được coi là ngành hàng mũi nhọn để tập trung phát triển xuất khẩu trong các năm tới. Các sản phẩm thủ công của Việt Nam đã có mặt tại 163 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam tăng trung bình cao so với các ngành hàng xuất khẩu khác. Bộ Công thương khuyến cáo các cơ sở sản xuất nâng cao giá trị thương mại của sản phẩm và phát triển thị trường xuất khẩu đảm bảo đầu ra ổn định cho các mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Ngành thủ công mỹ nghệ cần xác định hướng chiến lược xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ giai đoạn 2021 – 2025 là nâng cao năng lực xuất khẩu chuỗi giá trị hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên cơ sở tập trung vào các nhóm mặt hàng có lợi thế cạnh tranh, gia tăng giá trị sản phẩm, tăng cường hợp chuẩn quốc tế nhằm đáp ứng được nhiều phân khúc thị trường khác nhau, trong đó tập trung vào phân khúc thị trường trung và cao cấp, phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu 5 tỷ USD vào năm 2025. (báo Nhân dân, Chủ Nhật, 20-12-2020)

Kết quả trên cho thấy nghề thủ công đã đóng góp cho nền kinh tế quốc gia rất rõ ràng và được Chính phủ đặt trọng tâm chú ý trong các chính sách phát triển kinh tế cùng với giải quyết các mục tiêu xã hội và văn hóa khác. Trong những mục tiêu ấy, như tôi nêu ra ở phần trước, đó là góp phần giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, bảo vệ di sản…

Trong khi tìm hiểu về nghề thủ công, tôi chú ý nhiều hơn vào những khía cạnh khác mà nghề thủ công mang lại cho nền kinh tế và xem xét chúng có giá trị như thế nào. Căn cứ vào giá trị xuất khẩu, nếu mỗi triệu USD xuất khẩu hàng thủ công giải quyết việc làm 2,5 triệu lao động (thấp hơn so với số liệu báo cáo) thì thu nhập người lao động làm hàng xuất khẩu (400 USD/người/năm) thấp so với các nước trong khu vực hoặc nếu đạt mục tiêu xuất khẩu hàng thủ công 5 tỷ USD vào năm 2025 thì so với lực lượng lao động hơn 10 triệu đang hành nghề thủ công cả nước thì vẫn còn rất thấp (500 USD/người/năm).

Ngoài các giá trị của nghề thủ công nêu trên, chúng còn có giá trị gì khác? Những gì tôi đề cập ở những bài trước, dù chưa nói rõ nhưng người đọc cũng khám phá các khía cạnh, đặc trưng khác của nghề thủ công. Nhưng liệu điều đó có giúp gì cho nền kinh tế phát triển hay không? Kiến thức, bí quyết, kỹ năng của nghề thủ công đã tạo ra các sản phẩm thủ công cùng với các giá trị về bản sắc văn hóa, tính thẩm mỹ. Đó là các giá trị về kinh tế xã hội và văn hóa của nghề thủ công. Tôi nghĩ rằng nếu hài lòng với những đánh giá về giá trị của nghề thủ công như trên và dừng ở lại ở đây cũng vừa đủ để có thể đưa ra các chính sách bảo tồn và hỗ trợ nghề thủ công phát triển. Tuy nhiên đối với tôi và những người quan tâm đến di sản văn hóa không bằng lòng dừng lại. Nghề thủ công là một trong các loại hình của di sản văn hóa phi vật thể, chúng có các đặc trưng chung đồng thời có những đặc trưng riêng là do di sản nghề thủ công có biểu hiện vật chất, nhìn thấy được. Vì vậy giá trị kinh tế văn hóa phi vật thể của các loại hình văn hóa phi vật thể khác là gì?

Hội nghị về Thương mại và Phát triển (UNCTAD): “Các ngành công nghiệp sáng tạo có thể được định nghĩa là chu kỳ tạo ra, sản xuất và thương mại hóa của các sản phẩm và dịch vụ sử dụng tri thức và vốn tri thức làm đầu vào chính. Họ đối phó với sự tác động lẫn nhau của các phân ngành khác nhau, từ hàng thủ công truyền thống, sách, hình ảnh và biểu diễn nghệ thuật đến các lĩnh vực thiên về dịch vụ và công nghệ cao hơn như âm nhạc và các ngành công nghiệp điện ảnh, truyền hình và phát thanh, phương tiện truyền thông và thiết kế mới.” (UNCTAD, 2008, tr.1). Theo định nghĩa này, hàng thủ công truyền thống là thành phần trong ngành công nghiệp sáng tạo.

Nền kinh tế sáng tạo dựa trên việc mọi người sử dụng trí tưởng tượng sáng tạo để gia tăng giá trị của một ý tưởng. John Howkins một giáo sư nổi tiếng người Anh chuyên thuyết giảng về công nghiệp sáng tạo đã phát triển khái niệm này vào năm 2001 để mô tả các hệ thống kinh tế trong đó giá trị dựa trên những phẩm chất tưởng tượng mới lạ hơn là các nguồn lực truyền thống gồm đất đai, lao động và vốn: So với các ngành công nghiệp sáng tạo, vốn chỉ giới hạn trong các lĩnh vực cụ thể như UNCTAD liệt kê ở trên, thuật ngữ nền kinh tế sáng tạo là được sử dụng để mô tả sự sáng tạo trong toàn bộ nền kinh tế.

Một số nhà quan sát cho rằng sự sáng tạo là đặc trưng chính của các nền kinh tế phát triển trong thế kỷ 21. Các mô hình phổ biến nhất của nền kinh tế sáng tạo chia sẻ nhiều yếu tố. Mô hình dựa trên sự sáng tạo của Howkins bao gồm tất cả các loại sáng tạo, cho dù được thể hiện trong nghệ thuật hay sự đổi mới. Các mô hình dựa trên văn hóa hẹp hơn tập trung vào nghệ thuật, thiết kế và truyền thông và thường bị hạn chế trong các ngành được đề cử. Thuật ngữ này ngày càng đề cập đến tất cả các hoạt động kinh tế phụ thuộc vào sự sáng tạo cá nhân của một người đối với giá trị kinh tế cho dù kết quả đó có yếu tố văn hóa hay không. Theo cách sử dụng này, nền kinh tế sáng tạo xảy ra ở bất cứ nơi nào sự sáng tạo của cá nhân là nguồn giá trị chính và là nguyên nhân chính của một giao dịch.

Vai trò chính của sự sáng tạo cá nhân như là nguồn gốc xác định của nền kinh tế mới đã được John Howkins đưa ra vào năm 2001. Ông ưu tiên sự sáng tạo hơn là thông tin hay văn hóa. Ông định nghĩa một sản phẩm sáng tạo là một sản phẩm kinh tế, dịch vụ hoặc trải nghiệm do sự sáng tạo và có các đặc điểm mang tính cá nhân, mới lạ và có ý nghĩa. Ông cho biết đặc điểm xác định của nó gồm hai mặt: nó là kết quả của sự sáng tạo và giá trị kinh tế của nó dựa trên sự sáng tạo. Ấn bản thứ hai của Howkins về nền kinh tế sáng tạo vào năm 2013 cho thấy nhận thức sâu sắc hơn về tầm quan trọng của sự sáng tạo và sự cần thiết phải bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế.

Howkins thừa nhận rằng các nền kinh tế sáng tạo đã được tìm thấy trong nhiều xã hội theo thời gian. “Sáng tạo không phải là mới và kinh tế cũng không, nhưng cái mới là bản chất của mối quan hệ giữa chúng”. Ông cho rằng mối quan hệ mới này phản ánh sự gia tăng trong giáo dục đại học, sự thay đổi trong mô hình việc làm, tự do hóa thị trường, mức lương trung bình cao hơn, nhiều thời gian giải trí hơn và tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng.

Nền kinh tế sáng tạo thường được tìm thấy nhiều hơn trong các nền kinh tế dựa trên thị trường, nơi họ có thể hưởng lợi từ tự do trí tuệ và nghệ thuật, tiếp cận kiến ​​thức, sẵn có vốn tư nhân, tự do định giá thị trường và nơi dân số có thể thực hiện lựa chọn riêng về những gì chọn mua hoặc thuê. Nền kinh tế chỉ huy có thể cho phép các cá nhân được lựa chọn sáng tạo nhưng không thể duy trì một nền kinh tế sáng tạo. Sự tăng trưởng của nền kinh tế Trung Quốc kể từ năm 1980 đã được kích thích bởi sự sáng tạo và đổi mới dựa trên thị trường. Viết Nam cũng đã nhìn thấy và điều chỉnh bằng công cuộc đổi mới. Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và các quốc gia khác coi sự sáng tạo là lực lượng kinh tế chi phối ảnh hưởng đến việc làm, tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội. Diễn đàn OECD năm 2014 tuyên bố “Sáng tạo và đổi mới hiện đang thúc đẩy nền kinh tế, định hình lại toàn bộ các ngành công nghiệp và kích thích tăng trưởng bao trùm”.

Trở lại với nghề thủ công, sáng tạo là đặc trưng của nghề thủ công và là bản chất của người người thực hành nghề thủ công. Tôi đã đi giảng cho nhiều lớp học tại các địa phương luôn nhấn mạnh với các thợ thủ công trẻ về sáng tạo. Đơn giản là vì sản phẩm thủ công mỹ nghệ luôn là các độc bản và độc đáo, nghĩa là các chế tác sau không bao giờ giống hệt cái trước. Trước một mẫu vật liệu, cho dù là gỗ, đất sét, sơi dệt, kim loai… người thợ đắm mình trong suy tư để biến mẫu vật liệu ấy thành tác phẩm có giá trị. Năng lực sáng tạo của nghệ nhân, thợ thủ công không bẩm sinh mà hình thành không khác với các năng lực khác, từ một quá trình học tập, rèn luyện không ngừng và lâu dài. Do qua rèn luyện, sáng tạo được khẳng định là một trong những KỸ NĂNG quan trọng của người làm nghề thủ công.

Ngày nay, những người trẻ tuổi đều mong muốn gia nhập vào đôi ngũ lao động sáng tạo nhưng ngày càng nhiều người hơn cũng muốn bắt tay vào sự nghiệp sáng tạo, cả thông qua việc làm thông thường và các hoạt động kinh doanh tự do. Đây không phải là một điều xấu mà là quy luật của nền kinh tế sáng tạo nhưng nó cũng có nghĩa là một số người đang phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng tăng trong công việc của họ. Điều này không ám chỉ một cuộc khủng hoảng việc làm trong lĩnh vực sáng tạo sẽ xảy ra, mà là xác định những khó khăn tiềm ẩn ngày càng tăng khi nền kinh tế sáng tạo thích ứng với thời đại kỹ thuật số.

Ảnh minh họa, TTXVN, QĐNN

Bất kể chuyên gia định nghĩa nền kinh tế sáng tạo như thế nào, các chuyên gia dường như đồng ý một điều: Nó đang phát triển với tốc độ lập kỷ lục. Trên thực tế, đóng góp của riêng ngành văn hóa và nghệ thuật vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Mỹ đã tăng 40% từ năm 1998 đến năm 2015.

Tại sao sự gia tăng mạnh mẽ trong công việc sáng tạo? Nền kinh tế sáng tạo có vị trí duy nhất để tiếp tục với tốc độ tăng trưởng ổn định, ngay cả khi các ngành kinh tế khác đang tụt hậu. Diễn đàn Kinh tế Thế giới ghi nhận rằng ngành công nghiệp sáng tạo dường như hoạt động độc lập từ các thị trường khác, tiếp tục phát triển với tốc độ 14 phần trăm trên toàn thế giới trong đợt suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008. 

Một phần của sự tăng trưởng này có thể là do việc sử dụng Internet ngày càng mở rộng, tận dụng lợi thế của việc nhiều người chi tiền trực tuyến hơn và việc phân phối các sản phẩm sáng tạo trên khắp thế giới tương đối dễ dàng nhờ những tiến bộ trong công nghệ. Những người khác chỉ ra rằng lý do đằng sau sự tăng trưởng là do đang trở nên phổ biến hơn khi các chính phủ trên thế giới bắt đầu nhận ra giá trị của lĩnh vực sáng tạo. 

Không thể phủ nhận rằng nhu cầu sáng tạo là rất cần thiết. NASAA (Hiệp hội Quản trị Chứng khoán Bắc Mỹ) báo cáo rằng gần như tất cả người sử dụng lao Mỹ (97 phần trăm) nói sự sáng tạo đang ngày càng quan trọng đối với họ, và 85 phần trăm người sử dụng lao tìm cách để thuê những người sáng tạo nói: họ không thể lấp đầy nhu cầu đó.

Nền kinh tế sáng tạo phục vụ một mục đích lớn hơn nhiều so với việc mang đến cho chúng ta những bộ phim bom tấn hoặc bài hát hit mới nhất trên đài như chúng ta nghĩ trước đây. Từ góc độ tài chính thuần túy, các dịch vụ sáng tạo là một động lực to lớn của thị trường việc làm của các nước phát triển như Hoa Kỳ. Theo NASAA, “Sáng tạo đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế quốc gia so với các ngành xây dựng, khai thác mỏ, tiện ích, bảo hiểm, chỗ ở và dịch vụ ăn uống”.

Tác động của lĩnh vực sáng tạo mở rộng ra ngoài các ngành nghệ thuật. Cứ mỗi vị trí công việc nghệ thuật được tạo ra ở Mỹ vào năm 2015 có thêm 1,61 vị trí trong các ngành công nghiệp khác. Nhìn chung, giá trị của lĩnh vực sáng tạo ở Mỹ là 763,6 tỷ USD vào năm 2015, chiếm 4,2% GDP của quốc gia năm đó.

“Tuy nhiên, nó không chỉ là về tiền bạc. Nền kinh tế sáng tạo cũng là một phần quan trọng trong việc giữ cho ý nghĩa văn hóa tồn tại và tốt đẹp, cả ở Hoa Kỳ và nước ngoài. Các ngành công nghiệp văn hóa như bảo tàng, địa điểm di sản, các sự kiện và nghệ thuật biểu diễn, hàng thủ công mỹ nghệ đều đóng vai trò duy trì bản sắc văn hóa và chia sẻ bản sắc đó với những người khác thông qua các chương trình du lịch.

Sự nhấn mạnh về ý nghĩa văn hóa này có khả năng mang nhân loại lại gần nhau theo cách mà thế giới đang ngày càng chia rẽ đang rất cần. Các tác phẩm sáng tạo có sức hấp dẫn toàn cầu và Diễn đàn Kinh tế Thế giới khẳng định rằng các dịch vụ sáng tạo có thể là động cơ để xây dựng lòng tin, sự hiểu biết và chấp nhận giữa các nền văn hóa.

Với khả năng thu hẹp khoảng cách giữa các quan điểm xã hội khác nhau và tạo ra tăng trưởng tài chính, không có gì ngạc nhiên khi nền kinh tế sáng tạo đang thu hút được sự chú ý xứng đáng (theo Ashley Brooks, Đại học Rasmussen, Mỹ)”.

Bạn là một “nghệ sĩ chết đói” bởi vì bạn không có kỹ năng sáng tạo. Bạn là nhà báo nghèo vì bạn không có thói quen suy nghĩ sáng tạo trong mỗi bài viết của mình. Bạn là nhà tiếp thị bạn sẽ làm cho nhãn hàng của công ty không nổi bật giữa đám đông. Bạn là nhà quản trị kinh doanh bạn sẽ làm cho doanh nghiệp mình vật lộn với cạnh tranh trong thị trường… Tất cả là từ năng lực sáng tạo cá nhân.

Đến đây, có lẽ không cần dài dòng thêm: Làng nghề thủ công là không gian sáng tạo tuyệt vời đồng thời là trường đào tạo năng lực, rèn luyện kỹ năng sáng tạo, cung cấp cho nền kinh tế sáng tạo.

Việc tìm hiểu sâu các khía cạnh kinh tế của kiến ​​thức và kỹ năng truyền thống của di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống trong bối cảnh kinh tế xã hội trong trường hợp đối với nền kinh tế sáng tạo không chỉ cho ta tìm thấy ý nghĩa mà còn mở rộng cánh cửa để tìm hiểu và đánh giá đầy đủ hơn về giá trị của nghề thủ công truyền thống và làng nghề.

(Còn tiếp) 

NGUYỄN LỰC


Bộ sách“Làng nghề Viêt Nam – miệt mài cuộc hành trình di sản” là dự án do Văn phòng đại diện Hiệp hội tại Tp Hồ Chí Minh đã tổ chức biên soạn. Bộ sách đã xuất bản vào tháng 11/2020. Tập thể Ban biên tập sách chân thành cảm ơn Ông VŨ QUỐC TUẤN, Chuyên gia cao cấp, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn – Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đã viết bài nhận xét và giới thiệu bộ sách trên trên Tạp chí Làng nghề Việt. Chúng tôi trân trọng đăng lại bài viết này.
____________________



PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ LÀNG NGHỀ

LNV - Nhân kỷ niệm 15 năm thành lập Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, Văn phòng đại diện Hiệp hội tại Tp Hồ Chí Minh đã tổ chức biên soạn bộ sách“Làng nghề Viêt Nam – miệt mài cuộc hành trình di sản”. Đây là một bộ sách có giá trị, thể hiện công sức rất đáng trân trọng của các tác giả và những người biên soạn, đã đề cập đề tài di sản văn hóa phi vật thể làng nghề mà chúng ta rất cần đi sâu nghiên cứu, bảo vệ, khai thác và phát huy.

RẤT CẦN NGHIÊN CỨU SÂU VỀ “NGHỀ” VÀ “LÀNG NGHỀ”

Cho đến nay, tuy chưa có số liệu thống kê, song cũng có thể thấy những sách nghiên cứu sâu về nghề thủ công và làng nghề Việt Nam chưa nhiều. Phần lớn vẫn dừng lại ở giới thiệu lịch sử, quá trình hình thành các nghề, các làng nghề hoặc lịch sử các vị Tổ nghề; Có những cuốn sách nặng về cung cấp thông tin (có khi người này sao chép lại của người khác, rất ít nội dung bổ sung hoặc tư liệu mới), thường thiếu phân tích, tổng kết; Lại càng thiếu những cuốn sách nghiên cứu chuyên sâu về di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống. Có thể nói: Trong khi các làng nghề cả nước, nhất là các làng nghề truyền thống đang ra sức khắc phục khó khăn để bảo vệ và phát huy những di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công đậm đà bản sắc của dân tộc ta, kể cả bản sắc của mỗi vùng, miền, thậm chí của mỗi làng nghề, mỗi nghệ nhân, thì việc nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm, từ thực tiễn mà khái quát lên thành lý luận đang rất yếu, chưa được quan tâm đúng mức. Quan trọng hơn nữa là nếu nghiên cứu sâu lịch sử phát triển của mỗi nghề thủ công, có thể thấy giá trị cao đẹp của các nghề, công sức của cha ông ta trong phát triển nghề, những bước thăng trầm của mỗi nghề và sức sống mãnh liệt của mỗi nghề; Từ đó, thấy rõ hơn ý nghĩa của việc bảo tồn và phát huy di sản nghề và xây dựng làng nghề trong thời đại mới.

Có thể khẳng định: Nếu như công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về nghề thủ công và làng nghề chưa theo kịp, chưa có những kiến thức, triết lý và khái niệm cần thiết về di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống, thì rất dễ sa vào những vụ việc cụ thể, chạy theo hình thức mà không quan tâm nội dung, cũng dễ sa vào những hoạt động lợi dụng “thương mại hóa” di sản, thậm chí “kinh doanh tâm linh” thu lợi bất chính (như trong việc tôn tạo di sản, tổ chức lễ hội, tôn vinh …) mà xã hội đã lên án. Nếu như thế, càng khó có thể nói đến yêu cầu và sứ mạng của lý luận là tạo căn cứ cho hoạch định và thực thi những cơ chế, chính sách về nghề thủ công và làng nghề mà chúng ta vẫn nói đó là di sản văn hóa phi vật thể quý báu của dân tộc cần bảo vệ, khai thác và phát huy. Rõ ràng là đang rất cần những nghiên cứu sâu về lý luận và thực tiễn đối với nghề thủ công và làng nghề làm cơ sở cho những cơ chế, chính sách cho bước phát triển bền vững của lĩnh vực này.


MỘT CUỐN SÁCH TÂM HUYẾT VÀ TRÍ TUỆ

Trong bối cảnh như trên, bộ sách “Làng nghề Viêt Nam- miệt mài cuộc hành trình di sản” do Văn phòng đại diện Hiệp hội tại Tp Hồ Chí Minh tổ chức biên soạn đã thể hiện rõ “tâm” và “tầm” của những người chủ trì.

Bộ sách gồm 766 trang, chia làm hai tập: Tập 1 có tiêu đề “Di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống - Văn hóa sống của dân tộc”; Tập 2 có tiêu đề “Đa dạng di sản văn hóa phi vật thể - Nghề thủ công truyền thống Việt Nam”. Tập 1 gồm các bài viết đề cập những vấn đề chung về di sản văn hóa và nghề thủ công truyền thống Việt Nam, phát huy di sản bằng các hoạt động du lịch, đồng thời giới thiệu kinh nghiệm khá chi tiết của nước Áo trong việc khai thác, phát huy di sản, khi họ coi nghề thủ công truyền thống là di sản văn hóa phi vật thể và là thành tố kinh tế của đất nước. Tập 2 đi sâu vào tính đa dạng của di sản văn hóa nghề thủ công truyền thống Việt Nam từ các vùng, miền đến một số địa phương tiêu biểu, một số nghề và nghệ nhân tiêu biểu. Như vậy là bộ sách đã đi từ nhận thức lý luận đến thực tiễn, cung cấp cho người đọc những kiến thức đa dạng, phong phú, vừa rộng vừa sâu.

Qua bộ sách, có thể thấy những vấn đề quan trọng góp phần giúp người đọc thêm kiến thức, khẳng định những giá trị của di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống nước ta cũng như yêu cầu bảo vệ và phát huy các di sản quý báu ấy.



Trước hết, đó là nhận thức sâu thêm thuật ngữ “di sản văn hóa phi vật thể” và những vấn đề lý luận cơ bản về di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công. 

Theo bộ sách, di sản văn hóa phi vật thể bao gồm “các truyền thống hoặc các biểu hiện sống mà ngày nay chúng ta được thừa hưởng từ tổ tiên và đang truyền lại cho con cháu đời sau, chẳng hạn như biểu đạt truyền khẩu, phong tục, tập quán, nghệ thuật biểu diễn, thực hành, ứng xử xã hội, nghi lễ, sự kiện lễ hội, kiến thức và thực hành liên quan đến tự nhiên và vũ trụ hoặc kiến thức và kỹ năng để sản xuất đồ thủ công truyền thống” (tr. 54). “Nghề thủ công truyền thống” đã được khẳng định là một trong 05 hình thức di sản văn hóa phi vật thể theo Công ước về bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO năm 2003. Luật Di sản văn hóa của Việt Nam năm 2009 cũng đã quy định “Nghề thủ công truyền thống” là một trong 07 loại hình di sản văn hóa phi vật thể. Như vậy, người đọc không những hiểu sâu về di sản văn hóa phi vật thể trong các nghề thủ công mỹ nghệ, mà còn hiểu thêm rằng “tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể không phải là sự thể hiện văn hóa của chính nó mà là sự giàu có của kiến thức và kỹ năng được truyền lại thông qua sự thể hiện từ thế hệ này sang thế hệ tiếp theo” (tr. 55). Chính vì thế, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định “di sản văn hóa phi vật thể là di sản sống của chúng ta” (tr.57), khi họ coi di sản văn hóa không chỉ bao gồm các đặc tính hữu hình, mà đặc biệt hơn nữa, còn có các yếu tố thiết yếu đại diện cho văn hóa sống của cộng đồng con người với sự tiến hóa và phát triển liên tục của con người.

Hai là, nhũng đóng góp rất quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống cho mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

Như Chương trình nghị sự vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc năm 2015 đã đưa ra khái niệm phát triển bền vững gồm ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường, có thể thấy di sản văn hóa phi vật thể có thể đóng góp hiệu quả vào sự phát triển bền vững trên từng phương diện nói trên. Đối với nước ta cũng vậy, bộ sách đã diễn giải về từng lĩnh vực mà chúng ta đang quan tâm trong sự phát triển bền vững đất nước (từ tr. 107). Đó là: (i) Phát triển xã hội toàn diện, trong đó có việc bảo đảm an ninh lương thực bền vững; Chăm sóc y tế chất lượng; Tiếp cận nguồn nước và vệ sinh môi trường an toàn; Giáo dục có chất lượng; Hệ thống bảo trợ xã hội cho mọi người và bình đẳng giới. (ii) Bền vững về môi trường, trong đó có các nội dung như giúp bảo vệ đa dạng sinh học; góp phần bảo vệ môi trường bền vững; Góp phần tăng khả năng ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu; (iii) Phát triển kinh tế toàn diện; Quan trọng nhất là những tri thức, kỹ năng và thực hành nghề được các thế hệ duy trì và phát huy, tạo sinh kế cho các nhóm và cộng đồng dân cư nông thôn; Góp phần tạo nguồn lực cho phát triển; Tạo ra thu nhập và công việc bền vững cho nhiều cá nhân và cộng đồng, bao gồm người nghèo và những đối tượng dễ bị tổn thương; triển khai các hoạt động du lịch liên quan đến di sản văn hóa phi vật thể; và (iv) Bảo vệ hòa bình và an ninh: Góp phần duy trì sự bình yên, tình thương yêu trong cộng đồng; Giúp ngăn chặn hoặc giải quyết các tranh chấp về lợi ích, giúp mọi cơ sở liên kết với nhau theo chuỗi giá trị trong sản xuất kinh doanh, từ đó bảo đảm an ninh, đồng thuận xã hội, vượt qua sự hiểu lầm, thậm chí đối đầu, hận thù và bạo lực.

Ba là, những giải pháp chủ yếu để bảo vệ, khai thác và phát huy di sản phi vật thể nghề thủ công truyền thống.

Bộ sách đã chỉ ra các yếu tố cấu thành chính của di sản văn hóa phi vật thể bao gồm sự “tự xác định”, cùng với sự “tái tạo liên tục” để đáp ứng nhu cầu của xã hội, “mối liên hệ với bản sắc văn hóa” của các cộng đồng với nhóm người; “tính xác thực” của chúng; Và mối quan hệ không thể hòa tan của chúng với quyền con người (tr. 52); Chính vì vậy, di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ, đây là một yêu cầu mang tính quốc tế.

Theo các tác giả của bộ sách, Công ước 2003 của Liên hợp quốc chủ yếu đề cập các kỹ năng và kiến thức liên quan đến nghề thủ công hơn là bản thân các sản phẩm thủ công; thay vì tập trung vào việc bảo tồn các hiện vật thủ công, các biện pháp bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể thủ công nghiệp tập trung vào việc khuyến khích các nghệ nhân tiếp tục sản xuất thủ công và truyền kỹ năng và kiến thức của họ cho người khác, đặc biệt là trong cộng đồng của chính họ (tr. 99). Nói cách khác, “mục tiêu của việc bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể thủ công là bảo đảm rằng kiến thức và kỹ năng liên quan đến nghề truyền thống được truyền lại cho các thế hệ tương lai, để các nghề thủ công có thể tiếp tục được thực hành sản xuất trong cộng đồng của họ, cung cấp sinh kế cho người làm và phản ánh sự sáng tạo” (tr. 101). Trách nhiệm này không phải của ai khác, mà chính là của cộng động các làng nghề thủ công truyền thống, với sự trợ giúp của các tổ chức xã hội liên quan và về cơ chế, chính sách của cơ quan nhà nước.

Đáng chú ý là bộ sách đã giới thiệu khá chi tiết bản Báo cáo “Nghề thủ công truyền thống là di sản văn hóa phi vật thể và là thành tố kinh tế Áo” do đích thân Thủ tướng Liên bang Áo và Bộ kinh tế và kỹ thuật số Liên bang Áo ủy quyền thực hiện năm 2019. Báo cáo dày 230 trang, được các tác giả bộ sách giới thiệu tóm tắt nhưng rất đầy đủ, coi đây là một “quy trình nghiên cứu khoa học về giá trị nghề thủ công truyền thống, đồng thời cung cấp những kết luận khoa học. Tài liệu này có thể được tham khảo nhằm rút ngắn quá trình nghiên cứu nghề thủ công truyền thống Việt Nam “ (tr. 193). Tác giả nhấn mạnh “Mối quan tâm chính của Báo cáo không phải là bảo quản các đồ vật mà là bảo vệ quá trình sản xuất – điều này đòi hỏi phải bảo vệ các tài năng, kỹ năng và kiến thức chuyên môn cần thiết để sản xuất các đồ vật đó” (tr. 196). Từ đó, có thể thấy rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ và phát huy đội ngũ nghệ nhân các làng nghề truyền thống. 

Trên đây, là một số cảm nhận đối với bộ sách “Làng nghề Viêt Nam – miệt mài cuộc hành trình di sản” do Văn phòng đại diện Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tại Tp Hồ Chí Minh tổ chức biên soạn - một bộ sách quý thể hiện Tâm và Tầm của nhũng người biên soạn, xin được giới thiệu để những người quan tâm đến vấn đề di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống tìm đọc. Phải chăng, qua bộ sách, những người biên soạn muốn nói với các nhà quản lý, các làng nghề, các cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề những trăn trở, suy nghĩ về tương lai thật chưa rõ ràng, bền vững trong công cuộc chấn hưng và phát triển làng nghề nước ta? Mong rằng những cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có trách nhiệm nắm và hiểu được tầm quan trọng của vấn đề, từ đó có những giải pháp thiết thực để bảo vệ, khai thác và phát huy di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công rất quý của dân tộc ta theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan, tổ chức.

VŨ QUỐC TUẤN
Chuyên gia cao cấp, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn – Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

Bài cũ hơn

HELLO, XIN CHÀO!


Là một trang thông tin duy nhất cho đến hiện nay, có danh tiếng, đáng tin cậy, chúng tôi ủng hộ quyền truy cập rộng rãi của nghệ nhân, thợ thủ công, các nhà nghiên cứu, dịch giả…

Tìm hiểu thêm

Bài đăng phổ biến

  • NGHỀ VÀ LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TỈNH BẠC LIÊU
     Bạc Liêu nằm trên bán đảo Cà Mau, miền đất cực Nam nước ta. Ngoài nông nghiệp, Bạc Liêu còn có thế mạnh kinh tế từ rừng, hải ...
  • NHỮNG BIỂU HIỆN NHẬN THỨC SAI VỀ DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ?
     NGUYỄN LỰC Phó Chủ tịch Hội đồng Tư Vấn Hiệp hội Làng nghề Viết Nam Trong các cuộc thảo luận, hội thảo và các đợt kiểm tra thực tế tại Việt...
  • BẢN THẢO MỘT TIỂU LUẬN: GIÁ TRỊ CỦA NGHỀ THỦ CÔNG VÀ LÀNG NGHỀ (PHẦN CUỐI). BÀI 2: PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO (AI) ĐỐI VỚI NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG
    NGUYỄN LỰC  Phó Chủ tịch Hội đồng tư vấn  Hiệp hội Làng nghề Việt Nam  Lời Mở Đầu: Sự Giao Thoa Giữa Cổ Kính và Hiện Đại   Nghề thủ công...
  • NGHỀ VÀ LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TỉNH BẮC KẠN
    Bắc Kạn  một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ nước ta, có nhiều dân tộc thiểu số như: Tày‎, ‎‎H’Mông‎, ‎Dao‎, ‎Nùng‎, ‎Hoa… sinh sô...

Theo dõi bài mới

Translate

CÁC CHUYÊN MỤC CHÍNH

Bản đồ nghề thủ công Chính sách công Du lịch làng nghề Dự án Nghiên cứu Nghệ nhân Sáng kiến mới Thiết kế sáng tạo Tinh hoa thủ công Vật phẩm Về Hiệp hội

LÀM BẠN NHÉ!

THEO DÕI CHÚNG TÔI @INSTAGRAM

Copyright Sáng kiến thủ công quốc gia