facebook google twitter tumblr instagram linkedin
  • Trang chủ
  • Sáng kiến mới
  • Nghiên cứu
    • Về làng nghề
    • Về nghề thủ công
    • Về nghệ nhân
    • Về kinh tế
  • Tinh hoa thủ công
    • Nghệ nhân
    • Chế tác
    • Bản đồ nghề thủ công
    • Cơ sở sản xuất
  • Chính sách công
  • Dự án

Sáng kiến thủ công

NGUYỄN LỰC
Phó Chủ tịch Hội đồng tư vấn
Hiệp hội Làng Nghề Việt Nam

Lời mở đầu: Bình minh của một kỷ nguyên mới


Trong dòng chảy không ngừng của lịch sử nhân loại, mỗi kỷ nguyên vĩ đại đều được định hình bởi một nguồn cảm hứng chủ đạo – một “nàng thơ” vô hình nhưng đầy quyền năng, thúc đẩy trí tuệ và khát vọng sáng tạo của con người lên một tầm cao mới. Từ tiếng vang của những cỗ máy hơi nước trong Cách mạng Công nghiệp, sự bùng nổ của thông tin với máy tính cá nhân, cho đến cuộc cách mạng Internet đã kết nối toàn cầu, mỗi giai đoạn đều khắc sâu dấu ấn của một lực đẩy đột phá. Ngày nay, chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa của một kỷ nguyên mới, nơi nàng thơ không còn là vật thể hữu hình hay khái niệm trừu tượng, mà đến từ chính trí tuệ nhân tạo (AI).




C.3- SẢN XUẤT HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VỚI KỸ THUẬT SỐ:
C.4- HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VỚI THƯƠNG MẠI KỸ THUẬT SỐ:
 
c.4.1- Về thương mại kỹ thuật số (D-commerce):
 
Thương mại kỹ thuật số đang làm cho mọi thứ chuyển động nhanh hơn bao giờ hết. Đại dịch toàn cầu Covid-19 đã thúc đẩy thương mại kỹ thuật số trở thành trung tâm cho cả khách hàng B2B (doanh nghiệp với doanh nghiệp) và B2C (doanh nghiệp với người tiêu dùng), thu hút một nửa số người mua sắm mua các sản phẩm mà họ chưa từng mua trực tuyến trước đây, tăng 70% lượng người mua nhiều hơn bình thường vào năm 2020. Tờ Bloomberg cho rằng: Chấn thương Covid đã thay đổi nền kinh tế - có thể là mãi mãi.
 
Bộ sách“Làng nghề Viêt Nam – miệt mài cuộc hành trình di sản” là dự án do Văn phòng đại diện Hiệp hội tại Tp Hồ Chí Minh đã tổ chức biên soạn. Bộ sách đã xuất bản vào tháng 11/2020. Tập thể Ban biên tập sách chân thành cảm ơn Ông VŨ QUỐC TUẤN, Chuyên gia cao cấp, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn – Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đã viết bài nhận xét và giới thiệu bộ sách trên trên Tạp chí Làng nghề Việt. Chúng tôi trân trọng đăng lại bài viết này.
____________________



PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ LÀNG NGHỀ

LNV - Nhân kỷ niệm 15 năm thành lập Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, Văn phòng đại diện Hiệp hội tại Tp Hồ Chí Minh đã tổ chức biên soạn bộ sách“Làng nghề Viêt Nam – miệt mài cuộc hành trình di sản”. Đây là một bộ sách có giá trị, thể hiện công sức rất đáng trân trọng của các tác giả và những người biên soạn, đã đề cập đề tài di sản văn hóa phi vật thể làng nghề mà chúng ta rất cần đi sâu nghiên cứu, bảo vệ, khai thác và phát huy.

RẤT CẦN NGHIÊN CỨU SÂU VỀ “NGHỀ” VÀ “LÀNG NGHỀ”

Cho đến nay, tuy chưa có số liệu thống kê, song cũng có thể thấy những sách nghiên cứu sâu về nghề thủ công và làng nghề Việt Nam chưa nhiều. Phần lớn vẫn dừng lại ở giới thiệu lịch sử, quá trình hình thành các nghề, các làng nghề hoặc lịch sử các vị Tổ nghề; Có những cuốn sách nặng về cung cấp thông tin (có khi người này sao chép lại của người khác, rất ít nội dung bổ sung hoặc tư liệu mới), thường thiếu phân tích, tổng kết; Lại càng thiếu những cuốn sách nghiên cứu chuyên sâu về di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống. Có thể nói: Trong khi các làng nghề cả nước, nhất là các làng nghề truyền thống đang ra sức khắc phục khó khăn để bảo vệ và phát huy những di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công đậm đà bản sắc của dân tộc ta, kể cả bản sắc của mỗi vùng, miền, thậm chí của mỗi làng nghề, mỗi nghệ nhân, thì việc nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm, từ thực tiễn mà khái quát lên thành lý luận đang rất yếu, chưa được quan tâm đúng mức. Quan trọng hơn nữa là nếu nghiên cứu sâu lịch sử phát triển của mỗi nghề thủ công, có thể thấy giá trị cao đẹp của các nghề, công sức của cha ông ta trong phát triển nghề, những bước thăng trầm của mỗi nghề và sức sống mãnh liệt của mỗi nghề; Từ đó, thấy rõ hơn ý nghĩa của việc bảo tồn và phát huy di sản nghề và xây dựng làng nghề trong thời đại mới.

Có thể khẳng định: Nếu như công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về nghề thủ công và làng nghề chưa theo kịp, chưa có những kiến thức, triết lý và khái niệm cần thiết về di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống, thì rất dễ sa vào những vụ việc cụ thể, chạy theo hình thức mà không quan tâm nội dung, cũng dễ sa vào những hoạt động lợi dụng “thương mại hóa” di sản, thậm chí “kinh doanh tâm linh” thu lợi bất chính (như trong việc tôn tạo di sản, tổ chức lễ hội, tôn vinh …) mà xã hội đã lên án. Nếu như thế, càng khó có thể nói đến yêu cầu và sứ mạng của lý luận là tạo căn cứ cho hoạch định và thực thi những cơ chế, chính sách về nghề thủ công và làng nghề mà chúng ta vẫn nói đó là di sản văn hóa phi vật thể quý báu của dân tộc cần bảo vệ, khai thác và phát huy. Rõ ràng là đang rất cần những nghiên cứu sâu về lý luận và thực tiễn đối với nghề thủ công và làng nghề làm cơ sở cho những cơ chế, chính sách cho bước phát triển bền vững của lĩnh vực này.


MỘT CUỐN SÁCH TÂM HUYẾT VÀ TRÍ TUỆ

Trong bối cảnh như trên, bộ sách “Làng nghề Viêt Nam- miệt mài cuộc hành trình di sản” do Văn phòng đại diện Hiệp hội tại Tp Hồ Chí Minh tổ chức biên soạn đã thể hiện rõ “tâm” và “tầm” của những người chủ trì.

Bộ sách gồm 766 trang, chia làm hai tập: Tập 1 có tiêu đề “Di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống - Văn hóa sống của dân tộc”; Tập 2 có tiêu đề “Đa dạng di sản văn hóa phi vật thể - Nghề thủ công truyền thống Việt Nam”. Tập 1 gồm các bài viết đề cập những vấn đề chung về di sản văn hóa và nghề thủ công truyền thống Việt Nam, phát huy di sản bằng các hoạt động du lịch, đồng thời giới thiệu kinh nghiệm khá chi tiết của nước Áo trong việc khai thác, phát huy di sản, khi họ coi nghề thủ công truyền thống là di sản văn hóa phi vật thể và là thành tố kinh tế của đất nước. Tập 2 đi sâu vào tính đa dạng của di sản văn hóa nghề thủ công truyền thống Việt Nam từ các vùng, miền đến một số địa phương tiêu biểu, một số nghề và nghệ nhân tiêu biểu. Như vậy là bộ sách đã đi từ nhận thức lý luận đến thực tiễn, cung cấp cho người đọc những kiến thức đa dạng, phong phú, vừa rộng vừa sâu.

Qua bộ sách, có thể thấy những vấn đề quan trọng góp phần giúp người đọc thêm kiến thức, khẳng định những giá trị của di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống nước ta cũng như yêu cầu bảo vệ và phát huy các di sản quý báu ấy.



Trước hết, đó là nhận thức sâu thêm thuật ngữ “di sản văn hóa phi vật thể” và những vấn đề lý luận cơ bản về di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công. 

Theo bộ sách, di sản văn hóa phi vật thể bao gồm “các truyền thống hoặc các biểu hiện sống mà ngày nay chúng ta được thừa hưởng từ tổ tiên và đang truyền lại cho con cháu đời sau, chẳng hạn như biểu đạt truyền khẩu, phong tục, tập quán, nghệ thuật biểu diễn, thực hành, ứng xử xã hội, nghi lễ, sự kiện lễ hội, kiến thức và thực hành liên quan đến tự nhiên và vũ trụ hoặc kiến thức và kỹ năng để sản xuất đồ thủ công truyền thống” (tr. 54). “Nghề thủ công truyền thống” đã được khẳng định là một trong 05 hình thức di sản văn hóa phi vật thể theo Công ước về bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO năm 2003. Luật Di sản văn hóa của Việt Nam năm 2009 cũng đã quy định “Nghề thủ công truyền thống” là một trong 07 loại hình di sản văn hóa phi vật thể. Như vậy, người đọc không những hiểu sâu về di sản văn hóa phi vật thể trong các nghề thủ công mỹ nghệ, mà còn hiểu thêm rằng “tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể không phải là sự thể hiện văn hóa của chính nó mà là sự giàu có của kiến thức và kỹ năng được truyền lại thông qua sự thể hiện từ thế hệ này sang thế hệ tiếp theo” (tr. 55). Chính vì thế, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định “di sản văn hóa phi vật thể là di sản sống của chúng ta” (tr.57), khi họ coi di sản văn hóa không chỉ bao gồm các đặc tính hữu hình, mà đặc biệt hơn nữa, còn có các yếu tố thiết yếu đại diện cho văn hóa sống của cộng đồng con người với sự tiến hóa và phát triển liên tục của con người.

Hai là, nhũng đóng góp rất quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống cho mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

Như Chương trình nghị sự vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc năm 2015 đã đưa ra khái niệm phát triển bền vững gồm ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường, có thể thấy di sản văn hóa phi vật thể có thể đóng góp hiệu quả vào sự phát triển bền vững trên từng phương diện nói trên. Đối với nước ta cũng vậy, bộ sách đã diễn giải về từng lĩnh vực mà chúng ta đang quan tâm trong sự phát triển bền vững đất nước (từ tr. 107). Đó là: (i) Phát triển xã hội toàn diện, trong đó có việc bảo đảm an ninh lương thực bền vững; Chăm sóc y tế chất lượng; Tiếp cận nguồn nước và vệ sinh môi trường an toàn; Giáo dục có chất lượng; Hệ thống bảo trợ xã hội cho mọi người và bình đẳng giới. (ii) Bền vững về môi trường, trong đó có các nội dung như giúp bảo vệ đa dạng sinh học; góp phần bảo vệ môi trường bền vững; Góp phần tăng khả năng ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu; (iii) Phát triển kinh tế toàn diện; Quan trọng nhất là những tri thức, kỹ năng và thực hành nghề được các thế hệ duy trì và phát huy, tạo sinh kế cho các nhóm và cộng đồng dân cư nông thôn; Góp phần tạo nguồn lực cho phát triển; Tạo ra thu nhập và công việc bền vững cho nhiều cá nhân và cộng đồng, bao gồm người nghèo và những đối tượng dễ bị tổn thương; triển khai các hoạt động du lịch liên quan đến di sản văn hóa phi vật thể; và (iv) Bảo vệ hòa bình và an ninh: Góp phần duy trì sự bình yên, tình thương yêu trong cộng đồng; Giúp ngăn chặn hoặc giải quyết các tranh chấp về lợi ích, giúp mọi cơ sở liên kết với nhau theo chuỗi giá trị trong sản xuất kinh doanh, từ đó bảo đảm an ninh, đồng thuận xã hội, vượt qua sự hiểu lầm, thậm chí đối đầu, hận thù và bạo lực.

Ba là, những giải pháp chủ yếu để bảo vệ, khai thác và phát huy di sản phi vật thể nghề thủ công truyền thống.

Bộ sách đã chỉ ra các yếu tố cấu thành chính của di sản văn hóa phi vật thể bao gồm sự “tự xác định”, cùng với sự “tái tạo liên tục” để đáp ứng nhu cầu của xã hội, “mối liên hệ với bản sắc văn hóa” của các cộng đồng với nhóm người; “tính xác thực” của chúng; Và mối quan hệ không thể hòa tan của chúng với quyền con người (tr. 52); Chính vì vậy, di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ, đây là một yêu cầu mang tính quốc tế.

Theo các tác giả của bộ sách, Công ước 2003 của Liên hợp quốc chủ yếu đề cập các kỹ năng và kiến thức liên quan đến nghề thủ công hơn là bản thân các sản phẩm thủ công; thay vì tập trung vào việc bảo tồn các hiện vật thủ công, các biện pháp bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể thủ công nghiệp tập trung vào việc khuyến khích các nghệ nhân tiếp tục sản xuất thủ công và truyền kỹ năng và kiến thức của họ cho người khác, đặc biệt là trong cộng đồng của chính họ (tr. 99). Nói cách khác, “mục tiêu của việc bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể thủ công là bảo đảm rằng kiến thức và kỹ năng liên quan đến nghề truyền thống được truyền lại cho các thế hệ tương lai, để các nghề thủ công có thể tiếp tục được thực hành sản xuất trong cộng đồng của họ, cung cấp sinh kế cho người làm và phản ánh sự sáng tạo” (tr. 101). Trách nhiệm này không phải của ai khác, mà chính là của cộng động các làng nghề thủ công truyền thống, với sự trợ giúp của các tổ chức xã hội liên quan và về cơ chế, chính sách của cơ quan nhà nước.

Đáng chú ý là bộ sách đã giới thiệu khá chi tiết bản Báo cáo “Nghề thủ công truyền thống là di sản văn hóa phi vật thể và là thành tố kinh tế Áo” do đích thân Thủ tướng Liên bang Áo và Bộ kinh tế và kỹ thuật số Liên bang Áo ủy quyền thực hiện năm 2019. Báo cáo dày 230 trang, được các tác giả bộ sách giới thiệu tóm tắt nhưng rất đầy đủ, coi đây là một “quy trình nghiên cứu khoa học về giá trị nghề thủ công truyền thống, đồng thời cung cấp những kết luận khoa học. Tài liệu này có thể được tham khảo nhằm rút ngắn quá trình nghiên cứu nghề thủ công truyền thống Việt Nam “ (tr. 193). Tác giả nhấn mạnh “Mối quan tâm chính của Báo cáo không phải là bảo quản các đồ vật mà là bảo vệ quá trình sản xuất – điều này đòi hỏi phải bảo vệ các tài năng, kỹ năng và kiến thức chuyên môn cần thiết để sản xuất các đồ vật đó” (tr. 196). Từ đó, có thể thấy rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ và phát huy đội ngũ nghệ nhân các làng nghề truyền thống. 

Trên đây, là một số cảm nhận đối với bộ sách “Làng nghề Viêt Nam – miệt mài cuộc hành trình di sản” do Văn phòng đại diện Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tại Tp Hồ Chí Minh tổ chức biên soạn - một bộ sách quý thể hiện Tâm và Tầm của nhũng người biên soạn, xin được giới thiệu để những người quan tâm đến vấn đề di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công truyền thống tìm đọc. Phải chăng, qua bộ sách, những người biên soạn muốn nói với các nhà quản lý, các làng nghề, các cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề những trăn trở, suy nghĩ về tương lai thật chưa rõ ràng, bền vững trong công cuộc chấn hưng và phát triển làng nghề nước ta? Mong rằng những cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có trách nhiệm nắm và hiểu được tầm quan trọng của vấn đề, từ đó có những giải pháp thiết thực để bảo vệ, khai thác và phát huy di sản văn hóa phi vật thể nghề thủ công rất quý của dân tộc ta theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan, tổ chức.

VŨ QUỐC TUẤN
Chuyên gia cao cấp, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn – Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

 
Ảnh của tạp chí CRAFTSMANSHIP

Tài liệu của CRAFTSMANSHIP hợp tác với Trung tâm Di sản và Phát triển Toàn cầu (The Centre for Global Heritage and Development).

Một nhà khảo cổ học người Hà Lan tìm thấy các nghệ nhân và nhà lãnh đạo tư tưởng, những người đang xác định lại thủ công, kỹ năng và cuối cùng là ý nghĩa thực sự của nền kinh tế tri thức.

Một ngày vào tháng 12 năm 2003, khi còn là một sinh viên khảo cổ học trẻ tuổi, Maikel Kuijpers đang tham gia một hội thảo tại Bảo tàng Cổ vật Quốc gia Hà Lan, anh được trao một thanh kiếm được làm từ thời kỳ đồ đồng. Tay nghề của nghệ nhân làm vũ khí thời cổ đại ngay lập tức thu phục anh ta. “Các đường nét, các chi tiết, sự cân bằng tốt khi cầm nó,” anh nhớ lại. “Sự chuyên tâm dành cho việc chế tạo nó vẫn còn gây được tiếng vang 3.000 năm sau.”

Kuijpers nhận ra rằng vũ khí cổ đại này đã đặt ra đủ câu hỏi về bản chất của kiến thức – cách nó được tạo ra theo thời gian và tại sao kiến thức lại quan trọng – rằng nó có thể truyền cảm hứng cho một chương trình nghiên cứu dài hạn. Trong 15 năm tiếp theo, khi phát triển luận án Thạc sĩ về công nghệ gia công kim loại, Kuijpers hầu như không nghĩ về điều gì khác. Cuộc hành trình của ông đã đưa ông từ các địa điểm khai quật và xưởng vẽ của các nghệ nhân đến đỉnh cao của học thuật, cuối cùng ông đã nhận được bằng Tiến sĩ Khảo cổ học từ không đâu khác ngoài Đại học Cambridge.

Luận án tiến sĩ dài 318 trang đó đã trở thành một tài liệu bổ sung cho biên niên sử nghiên cứu học thuật về bản chất của nghề thủ công và kỹ năng. Nghiên cứu điển hình của Kuijpers cho cuộc điều tra này là gia công kim loại thời kỳ đồ đồng, đã được viết thành cuốn sách có tựa đề “Khảo cổ học của kỹ năng” (Routledge, 2017). Trên đường đi khảo cứu, với sự giúp đỡ của Trung tâm Di sản và Phát triển Toàn cầu của Hà Lan, Kuijpers cũng đã sản xuất một bộ phim tài liệu đáng chú ý, có tên “Tương lai được làm thủ công”. (Xem video bên dưới.) Chỉ dài hơn 12 phút, bộ phim tài liệu có các cuộc phỏng vấn với một số chuyên gia hàng đầu thế giới về nghề thủ công và qua các cảnh của các nghệ nhân bậc thầy khác nhau đang làm việc. Dàn diễn viên bao gồm một thợ may, một người làm đàn vĩ cầm, một thợ gốm, một người nấu rượu và một thợ cắt tóc.

Bộ phim ngắn gọn như nó vốn có, không có gì là ngắn gọn hơn của một chuyến du lịch – cả về trí tuệ và cảm xúc. Bây giờ tôi đã nói điều đó, tôi nên thừa nhận rằng tôi có lý do để thiên vị. Nhóm của chúng tôi ở đây tại The Craftsmanship Initiative đã rất hứng thú với công việc của Kuijpers đến nỗi chúng tôi đang hợp tác với anh ấy. Trong những tháng tới, chúng tôi sẽ giúp đỡ nhau tìm cách phục hồi và nâng cao các nguyên tắc của nghề thủ công nhằm theo đuổi một mục tiêu chung: truyền cho xã hội ngày nay một kiểu phục hưng thứ hai về sự sáng tạo và kỹ năng.

Xem video tại đây: https://www.youtube.com/watch?v=jOMujtoicTk

KỸ NĂNG HỆ THỐNG CẤP BẬC

Trong khi không ngừng khám phá, Kuijpers liên tục ngạc nhiên trước những gì anh thấy trong các xưởng mà anh đến thăm. “Khi bạn xem các nghệ nhân làm việc,” anh ấy nói với tôi, “theo một cách kỳ lạ, nó rất êm dịu.” Hết lần này đến lần khác, Kuijpers nhận thấy rất ít sự căng thẳng trong các xưởng này. Một lý do, ông kết luận, là khi mọi người đang làm việc bằng tay, chất lượng không thể vội vàng; cũng không thể làm giả được. “Các nghệ nhân bậc thầy không cần phải nói rằng họ là bậc thầy – vì đó là điều hiển nhiên trong công việc.”

Ông cũng nhận thấy một bầu không khí trật tự, dường như nảy sinh từ ý thức chung về hệ thống cấp bậc trong các xưởng này. “Tôi là người Hà Lan,” anh ấy nói, “và chúng tôi tự hào về việc có một xã hội rất bình đẳng, vì vậy chúng tôi thường không coi thứ bậc là một điều tốt”. Ông tin rằng phần lớn quan điểm đó xuất phát từ bầu không khí rất khác có xu hướng thống trị các văn phòng cổ trắng, nơi thường có sự nhầm lẫn về việc liệu sếp có thực sự xứng đáng được giao phó hay không. “Trong xưởng của một nghệ nhân, hoàn toàn rõ ràng ai là bậc thầy và những người khác đứng ở đâu trên hệ thống phân cấp kỹ năng.”

Cấu trúc quyền lực mà hệ thống phân cấp tạo ra bên trong các xưởng thủ công đã để lại cho Kuijpers cảm giác ấn tượng đáng ngạc nhiên và hy vọng rằng bằng cách nào đó chúng ta có thể tìm ra cách để truyền bá những phẩm chất của nó. “Nó ổn định hơn, dễ dàng được chấp nhận hơn,” anh ấy nói với tôi. “Nó rất rõ ràng, và nó tồn tại bên ngoài những ảnh hưởng của xã hội.”

SÁNG TẠO VÀ BÀN TAY

Trong suốt bộ phim của Kuijpers, hết chuyên gia này đến chuyên gia khác nói về những kỹ năng và đức tính quan trọng đã bị mất đi khi công việc ngày càng trôi xa khỏi chuyên môn thực hành. Các kỹ năng cấp cao được cho là rõ ràng vẫn là điều kiện tiên quyết cho tất cả các loại nghề hiện đại. Luật, các loại bài viết khác nhau và khoa học phân tích, chỉ để kể tên một vài kỹ năng. Điểm mà bộ phim này tạo ra là sự khéo léo của các tác phẩm thủ công liên quan đến sự phong phú và vô hình hơn.

Ollie Trenchard, một thợ cắt hoa văn tại Anderson & Sheppard, một tiệm may Saville Row ở London, đã nói với Kuijpers rằng: “Làm việc bằng đôi tay của mình là điều khiến tâm trí của tôi luôn hướng tới. “Có một mối liên hệ với những gì tôi đang làm, với vải vóc, hàng may mặc, thậm chí cả với khách hàng”.

Trevor Marchand, giáo sư Nhân chủng học Xã hội tại Đại học London, cho biết, để đạt được khả năng làm chủ thực sự, các nghệ nhân phải sử dụng “trí óc và cơ thể, với bộ máy giác quan đầy đủ của họ”. Marchand lập luận rằng công việc kiểu này đan xen giữa kiến thức vật lý và kiến thức trí tuệ của một nghệ nhân. Và điều đó dẫn đến những thành tựu hữu hình có thể hoàn thành hơn công việc bàn giấy, bất kể có bao nhiêu công cụ kỹ thuật số ưa thích được sử dụng.

TƯƠNG LAI CỦA NGHỀ THỦ CÔNG
Tương lai của thực phẩm thủ công trong Tuần lễ nghệ thuật Sigapore 2019 - Singapore Art Week 2019 Future of Craft Food

Như các bạn thấy trong bộ phim, một số chuyên gia nhìn thấy các giá trị của nghề thủ công — và việc chúng ta bỏ rơi chúng — như một bản cáo trạng về chủ nghĩa tư bản và hệ thống giáo dục mà chúng tôi đã xây dựng để duy trì nó. Theo quan điểm của những nhà phê bình này, chủ nghĩa tư bản hiện đại là thứ đã tạo ra thế giới lao động rạn nứt ngày nay, nơi mọi người bỏ đi từ công ty này sang công ty khác và công việc này sang công việc khác. Và trường học không giúp ích được gì cho vấn đề. Glenn Adamson, tác giả cuốn sách “Ít hơn, tốt hơn” và là cựu giám đốc của Bảo tàng Nghệ thuật và Thiết kế ở New York, lập luận: “Sinh viên không còn cơ hội để có được các kỹ năng một cách sâu sắc. “Họ không biết thế nào là đạt được quyền làm chủ.”

Nhưng tất cả không phải là u ám và diệt vong. Kuijpers tin rằng nếu chúng ta có thể định nghĩa lại nghề thủ công và kỹ năng theo một hình thức được xây dựng cho tương lai, thay vì chỉ là một bài điếu văn hoài niệm về quá khứ, chúng ta có thể tạo ra một nền văn hóa xuất sắc mới.

Theo quan điểm của ông, thủ công không phải là một tập hợp các sản phẩm tốt, hay thậm chí là một tập hợp các kỹ năng; đó là “một cách khám phá và hiểu thế giới vật chất.” Đó là một cách tiếp cận dựa trên thực tế để hướng dẫn sự phát triển xã hội. “Tôi có thể là một nhà khảo cổ học, nhưng mối quan tâm của tôi nằm ở tương lai,” anh nói. “Đây là lý do tại sao tôi thích tập trung vào việc hình thành kiến thức, tác động của các vật liệu mới đối với xã hội, hoặc cách thức hoạt động của các đổi mới. Vì nhiều người trong số này là các quá trình lâu dài nên quá khứ là nơi lý tưởng để nghiên cứu chúng. Khảo cổ học là cách nghĩ, cách nghĩ lâu dài mới chính xác được”.

Và bây giờ, ông lập luận, một số nghệ nhân triển vọng nhất của chúng ta là “nhà thiết kế, nhà khoa học và đặc biệt là kỹ sư, những người tốt hơn có thể được coi là nhà công nghệ thủ công hoặc nhà khoa học thủ công”.

Tại sao? Bởi vì các vấn đề môi trường ngày nay, theo quan điểm của Kuijpers, cuối cùng sẽ đòi hỏi một “nền kinh tế vòng tròn” mới, dựa trên “tính bền vững, độ bền và sự xuất sắc”. Ông lập luận rằng khi thời điểm đó đến, nó sẽ đòi hỏi một kỷ nguyên đổi mới táo bạo mới. Kuijpers nói: “Vật liệu là mẹ đẻ của sự đổi mới, và nói thêm rằng ít người hiểu rõ thách thức này hơn nghệ nhân, người mà công việc của họ chiếm một vị trí độc nhất “giữa truyền thống và đổi mới, tư duy và việc làm, địa phương và toàn cầu”.

NGUYỄN LỰC
(Theo Todd Oppenheimer, biên tập viên của tạp chí xuất bản hàng quý và nhà xuất bản Craftsmanship).

 

Vũ Quốc Tuấn
Chủ tịch Hội đồng Tư vấn – Hiệp hội Làng nghề Việt Nam
 
Thời gian gần đây, sau khi vấn đề phát triển kinh tế tư nhân được nêu lên tại Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, đã liên tiếp có nhiều cuộc họp, hội thảo để khẳng định vị trí đặc biệt quan trọng của kinh tế tư nhân trong công cuộc phát triển đất nước ta. Bài viết này nhằm góp phần nhận thức sâu sắc thêm về giá trị của kinh tế làng nghề - một bộ phận quan trọng của kinh tế tư nhân; trong phát triển kinh tế tư nhân, không thể không coi trọng kinh tế làng nghề.

KINH TẾ TƯ NHÂN KHẲNG ĐỊNH VỊ TRÍ

Từ thân phận là một thành phần kinh tế bị cải tạo để đi đến xóa bỏ trong thể chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp những năm trước đây, đến nay, kinh tế tư nhân đã được công nhận là một động lực quan trong trong nền kinh tế - xã hội, đóng góp ngày càng lớn vào sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. 
 
Khu vực kinh tế tư nhân đang bao gồm hơn 800 nghìn doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và hơn 5,4 triệu hộ kinh doanh. Năm 2019, khu vực kinh tế tư nhân tạo ra khoảng 42% GDP, đóng góp 45% vốn đầu tư toàn xã hội, 30% thu ngân sách Nhà nước, thu hút khoảng 85% lực lượng lao động cả nước. Chính khu vực tư nhân năng động này đã vận dụng các chính sách của nhà nước, khắc phục khó khăn, góp phần quan trọng đưa kinh tế nước ta bước đầu vượt qua đại dịch Covid-19, GDP tăng trưởng 2,9% trong năm 2020. 

Các doanh nghiệp tư nhân ngày càng khẳng định vai trò và đóng góp to lớn cho nền kinh tế, trở thành mũi nhọn tại một số lĩnh vực như du lịch, chế biến thực phẩm, công nghệ viễn thông; một số tập đoàn đã đầu tư ra nước ngoài, phát triển thành công những sản phẩm, công trình mang tầm vóc khu vực giúp thăng hạng vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Có thể kể 10 doanh nghiệp/tập đoàn kinh tế tư nhân lớn nhất năm 2018 lần lượt là Vingroup, Thế giới Di động, Vinamilk, DOJI, Thaco, Hòa Phát, FPT, Vietjet, VP Bank và Masan mà tháng 12/2018, Vietnam Report đã công bố trong Bảng xếp hạng VNR500 - Top 500.

Đáng chú ý là trong cơ cấu của kinh tế tư nhân, số doanh nghiệp có đăng ký theo Luật Doanh nghiệp, thực hiện hạch toán kinh tế, đóng thuế theo biên lai, chứng từ chỉ chiếm khoảng 12% GDP. Còn lại khoảng 30% GDP là phần đóng góp của hơn 5,4 triệu hộ kinh doanh đăng ký ở quận, huyện, nộp thuế khoán, thuộc loại hình kinh tế phi hình thức đang phủ khắp các vùng từ đô thị đến nông thôn. Với quy mô nhỏ và vừa, thậm chí siêu nhỏ, vốn ít, lao động ít, quản lý đơn giản, các hộ này đã bảo đảm cuộc sống cho khoảng 20 triệu người dân, góp phần gây dựng cuộc sống ấm no của các tầng lớp nhân dân, ổn định trật tự, an ninh xã hội. Hộ kinh doanh cũng là nơi cho các chủ hộ tập dượt, tích lũy kinh nghiệm, vốn liếng để từng bước lớn lên thành những doanh nghiệp, những tập đoàn kinh tế tư nhân. Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới đã chỉ rõ dù đã công nghiệp hóa, hiện đại hóa, một nền kinh tế vẫn không thể không có những doanh nghiệp nhỏ và vừa, hình thành sự bổ sung tất yếu về nhiều mặt giữa các doanh nghiệp ở các quy mô khác nhau.  

Trong thời gian tới, như Đại hội lần thứ XIII của Đảng (2021) đã quyết định “Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, nhất là trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao” (Trích Báo cáo Chính trị trình Đại hội).  Phấn đấu đến năm 2025 có khoảng 1,5 triệu doanh nghiệp hoạt động; tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP khoảng 55%; đến năm 2030 có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp với tỷ trọng đóng góp đạt 60%-70%. 

Thực hiện Nghị quyết Đại hội, tại phiên họp Chính phủ ngày 18/2/2021, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoàn chỉnh Đề án đổi mới toàn diện quản lý nhà nước để tạo thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ. 

Ngày 6/3/2021, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc gặp mặt, đối thoại với các doanh nhân, trí thức với chủ đề “Đối thoại 2045”. Phát biểu tổng kết, Thủ tướng đã cam kết “Tiếp tục thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là các Bộ trưởng, cam kết bảo đảm sự ổn định của kinh tế vĩ mô và minh bạch hóa chính sách; các bộ, ngành và địa phương phải mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn lực và cơ hội tham gia của doanh nghiệp; hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư và bảo đảm hoạt động của doanh nghiệp theo cơ chế thị trường. Bảo đảm thực thi chính sách minh bạch, hiệu quả; hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, phong trào khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; mở rộng khả năng tham gia thị trường và thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp; thúc đẩy tính tự chủ, cạnh tranh của kinh tế tư nhân” (Theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ ngày 7/3/2021).

Cũng theo chiều hướng phát triển kinh tế tư nhân, ngày 5/3/2021 đã có cuộc Tọa đàm “Làm tổ cho đại bàng nội” tại Quảng Ninh, tại đây, các doanh nhân, chuyên gia nêu lên nhiều ý kiến tâm huyết với tinh thần khuyến khích hơn nữa kinh tế tư nhân, để doanh nghiệp dân tộc trở thành yếu tố dẫn dắt, bảo đảm sự tự chủ của kinh tế Việt Nam.

PHÁT HUY BẢN SẮC CỦA KINH TẾ LÀNG NGHỀ

Trong kinh tế tư nhân nước ta, kinh tế làng nghề là một bộ phận quan trọng, đã tồn tại tử rất lâu trong lịch sử với sự ra đời của các nghề thủ công, các làng nghề. Cả nước ta hiện có khoảng 5.411 làng nghề với 1.864 làng nghề truyền thống. Có thể tóm tắt vị trí của kinh tế làng nghề qua năm nội dung sau đây.

Một là, kinh tế làng nghề gồm phần lớn là các hộ kinh doanh (một số ít là doanh nghiệp và hợp tác xã), tất cả đều do tư nhân làm chủ, thể hiện sức dân trong phát triển đất nước và đang còn rất nhiều tiềm năng có thể phát huy. Nếu nói nông nghiệp, nông thôn là “bệ đỡ” cho kinh tế cả nước, thì làng nghề chính là một khu vực rộng lớn thu nhận và tạo việc làm cho người lao động mỗi khi kinh tế thành phố có biến động, người lao động trở về nông thôn.

Hai là, kinh tế làng nghề mang bản sắc cốt lõi là văn hóa dân tộc được lưu truyền từ nhiều đời nay, một số sản phẩm và nghề thủ công đã là di sản vật thể và phi vật thể quốc gia hoặc được UNESCO công nhận; nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu tới nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.

Ba là, kinh tế làng nghề tạo việc làm trong các ngành nghề thủ công cho cư dân nông thôn, với thu nhập gấp 2 -3 lần so với nơi thuần nông, góp phần cải thiện đời sống, bảo đảm an sinh xã hội. Thanh niên nông thôn có việc làm và trưởng thành ngay tại quê hương, khỏi phải ra thành phố hoặc đi bán sức ở nước ngoài, gây ra nhiều thảm cảnh.

Bốn là, kinh tế làng nghề góp phần xây dựng nông thôn mới thịnh vượng, cộng đồng dân cư gắn kết, ấm no, hạnh phúc, có đủ điện, đường, trường, trạm; quang cảnh khang trang, xanh, sạch, đẹp; tạo nhịp sống nhộn nhịp, tươi vui, hình thành “một miền quê đáng sống”. Tại các làng nghề truyền thống, hầu như không có tệ nạn xã hội, bảo đảm an toàn, an ninh cho làng xóm.
Năm là, kinh tế làng nghề tạo ra những sản phẩm du lịch, nhất là du lịch văn hóa, tâm linh, với các di tích văn hóa, lễ hội truyền thống, lịch sử các vị Tổ nghề; là nơi khách du lịch tiếp xúc, giao lưu với các nghệ nhân, tìm hiểu kỹ thuật, công nghệ chế tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ.

Điều mà bài viết này muôn nhấn mạnh chính là BẢN SẮC VĂN HÓA CỦA KINH TẾ LÀNG NGHỀ. Trong điều kiện hiện nay, có thể thấy, văn hóa làng nghề về cơ bản vẫn tiếp nối những tinh hoa của làng truyền thống, song đang được vận dụng, phát huy trong tình hình mới. Có thể nêu ra những yếu tố cấu thành văn hóa làng nghề như sau. 

- Về cơ cấu tổ chức: đó là việc duy trì các quan hệ làng xóm – dòng họ - gia đình – thợ thủ công; là việc hình thành những hội nghề nghiệp trong quá trình bảo tồn và phát triển làng nghề; v.v… Những quan hệ nói trên cần được duy trì và phát triển theo yêu cầu của kinh tế thị trường, mà chủ yếu là củng cố quản lý nội bộ đi đôi với đẩy mạnh liên kết liên doanh, nhất là liên kết theo chuỗi giá trị để khắc phục những yếu kém của từng hộ kinh doanh, tăng thêm sức mạnh, cùng phát huy tài năng, sáng tạo mẫu mã, kiểu dáng mới, nâng cao chất lượng của sản phẩm hàng hóa, mở rộng thị trường, v.v… 

- Về văn hóa vật thể: đó là những sản phẩm thủ công mỹ nghệ đặc trưng cho văn hóa từng làng nghề từng vùng miền; là các đình, đền, miếu, nơi thờ Tổ nghề, nhà thờ họ, là các nhà truyền thống, bảo tàng làng nghề, v.v…Các nhà truyền thống, các bảo tàng (kể cả bảo tàng tư nhân) là rất cần được xây dựng, trong đó có những công trình có tính tổng hợp của một làng nghề hoặc công trình chuyên đề về một nghề thủ công (ví dụ chuyên về gốm sứ, mây tre đan, tơ lụa, thổ cẩm …). 

- Về văn hóa phi vật thể, đó là: (i) tính cộng đồng của các luật tục, phong tục tập quán, cung cách ứng xử trong làng xóm; (ii) các lễ hội, tôn vinh Tổ nghề; tổ chức các sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng cộng đồng (lễ hội, rước sách, tế lễ, các trò chơi dân gian …); tôn vinh những di tích, địa danh truyền thống làng nghề gắn với danh lam, thắng cảnh, di tích cách mạng; (iii) dạy nghề, truyền nghề, giữ gìn các bí quyết và kỹ sảo nghề, tôn vinh và phát huy tài năng và sức sáng tạo của các nghệ nhân; (iv) phát huy “vốn xã hội” trong các làng nghề, v.v…

Bản sắc văn hóa – cũng là đặc trưng của kinh tế làng nghề, là cái tạo nên SỰ KHÁC BIỆT của làng nghề so với các nền kinh tế khác đã được bồi đắp, giữ vững và phát triển qua chiều dài lịch sử của dân tộc. Xin nhấn mạnh về giá trị của NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể, trongg đó có nhiều biểu hiện, như công cụ sản xuất, quần áo, đồ trang sức, trang phục và đạo cụ cho các lễ hội và biểu diễn nghệ thuật, đồ vật được sử dụng để lưu trữ (như hũ, vại), phương tiện vận chuyển, nghệ thuật trang trí và các đồ vật nghi lễ, nhạc cụ và đồ dùng gia đình, đồ chơi, đồ giải trí và giáo dục... Nhiều vật thể trong số nói trên có thứ chỉ được sử dụng trong thời gian ngắn, song cũng có những hiện vật trở thành gia truyền, được lưu giữ như kỷ vật từ thế hệ này sang thế hệ khác. Song, điều quan trọng nhất, theo các nhà nghiên cứu, mục tiêu của việc bảo vệ các nghề thủ công truyền thống – di sản văn hóa phi vật thể chính là bảo đảm cho các kiến thức và kỹ năng liên quan đến nghề truyền thống được truyền lại cho các thế hệ tương lai, để các nghề thủ công có thể được thực hành sản xuất trong cộng đồng của họ, vừa cung cấp sinh kế cho người làm vừa phát huy tính sáng tạo. Chính vì thế, khuynh hướng của khách du lịch thời nay cũng là thích thú nhiều hơn đến những đồ vật thủ công thấm nhuần kiến thức và giá trị văn hóa tích lũy trong bàn tay, khối óc của người thợ thủ công. Khách du lịch thường muốn trải nghiệm bằng cách tự tay chế tác hàng thủ công, thích thú giao lưu với các nghệ nhân để tìm hiếu sâu về kỹ năng chế tác.

***

Tóm lại, với những tín hiệu rất đáng mừng trong thời gian gần dây, có thể tin tưởng và hy vọng kinh tế tư nhân nước ta sẽ có bước phát triển mới mạnh mẽ, trong đó kinh tế làng nghề tiếp tục phát huy bản sắc riêng của mình, đóng góp nhiều hơn và xứng đáng hơn nữa cho kinh tế tư nhân và cho sự phát triển của đất nước.

VQT
(Bài đã đăng Tạp chí Làng nghề Việt Nam, số 11(47) ngày 12/3/2021)

Bài cũ hơn

HELLO, XIN CHÀO!


Là một trang thông tin duy nhất cho đến hiện nay, có danh tiếng, đáng tin cậy, chúng tôi ủng hộ quyền truy cập rộng rãi của nghệ nhân, thợ thủ công, các nhà nghiên cứu, dịch giả…

Tìm hiểu thêm

Bài đăng phổ biến

  • NGHỀ VÀ LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TỈNH BẠC LIÊU
     Bạc Liêu nằm trên bán đảo Cà Mau, miền đất cực Nam nước ta. Ngoài nông nghiệp, Bạc Liêu còn có thế mạnh kinh tế từ rừng, hải ...
  • NHỮNG BIỂU HIỆN NHẬN THỨC SAI VỀ DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ?
     NGUYỄN LỰC Phó Chủ tịch Hội đồng Tư Vấn Hiệp hội Làng nghề Viết Nam Trong các cuộc thảo luận, hội thảo và các đợt kiểm tra thực tế tại Việt...
  • BẢN THẢO MỘT TIỂU LUẬN: GIÁ TRỊ CỦA NGHỀ THỦ CÔNG VÀ LÀNG NGHỀ (PHẦN CUỐI). BÀI 2: PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO (AI) ĐỐI VỚI NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG
    NGUYỄN LỰC  Phó Chủ tịch Hội đồng tư vấn  Hiệp hội Làng nghề Việt Nam  Lời Mở Đầu: Sự Giao Thoa Giữa Cổ Kính và Hiện Đại   Nghề thủ công...
  • NGHỀ VÀ LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TỉNH BẮC KẠN
    Bắc Kạn  một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ nước ta, có nhiều dân tộc thiểu số như: Tày‎, ‎‎H’Mông‎, ‎Dao‎, ‎Nùng‎, ‎Hoa… sinh sô...

Theo dõi bài mới

Translate

CÁC CHUYÊN MỤC CHÍNH

Bản đồ nghề thủ công Chính sách công Du lịch làng nghề Dự án Nghiên cứu Nghệ nhân Sáng kiến mới Thiết kế sáng tạo Tinh hoa thủ công Vật phẩm Về Hiệp hội

LÀM BẠN NHÉ!

THEO DÕI CHÚNG TÔI @INSTAGRAM

Copyright Sáng kiến thủ công quốc gia